hợp đồng mua bán quốc tế Công ước viên 1980 của Liên Hợp Quốc

25/10/2021 05:52:31

CISG 1980
1
Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán quốc tế
(Công ước viên 1980)
Các nước thành viên của công ước này:
– Coi trọng những mục tiêu tổng quát ghi trong các Nghị quyết về sự thành lập một nền trật tự kinh tế quốc tế
mới mà Ðại hội đồng Liên hợp quốc đã chấp nhận trong khóa họp bất thường lần thứ sáu,
– Cho rằng việc chấp nhận các quy tắc thống nhất điều chỉnh các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có tính
đến các hệ thống xã hội, kinh tế và pháp lý khác nhau thúc đẩy việc loại trừ các trở ngại pháp lý trong thương
mại quốc tế và sẽ hỗ trợ cho việc phát triển thương mại quốc tế, đã thỏa thuận những điều sau:

PHẦN I: PHẠM VI ÁP DỤNG VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG I
PHẠM VI ÁP DỤNG
Ðiều 1.
1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.
a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,
b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công
ước này.
2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các
quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện
này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan
hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng
giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin
giữa các bên.
3. Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc
thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương
mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định
phạm vi áp dụng của Công ước này.
Ðiều 2:
Công ước này không áp dụng vào việc mua bán:
a. Các hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc
nội trợ, ngoại trừ khi người bán, vào bất cứ lúc
nào trong thời gian trước hoặc vào thời điểm ký
kết hợp đồng, không biết hoặc không cần phải biết
rằng hàng hóa đã được mua để sử dụng như thế.
b. Bán đấu giá.
c. Ðể thi hành luật hoặc văn kiện uỷ thác khác theo
luật.
d. Các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu tư, các
chứng từ lưu thông hoặc tiền tệ.
e. Tàu thủy, máy bay và các chạy trên đệm không
khí.
f. Ðiện năng.
Ðiều 3:
1. Ðược coi là hợp đồng mua bán các hợp đồng cung
cấp hàng hóa sẽ chế tạo hay sản xuất, nếu bên đặt
hàng không có nghĩa vụ cung cấp phần lớn các
nguyên liệu cần thiết cho việc chế tạo hay sản xuất
hàng hóa đó.
2. Công ước này không áp dụng cho các hợp đồng
trong đó nghĩa vụ của bên giao hàng chủ yếu là phải
thực hiện một công việc hoặc cung cấp một dịch vụ
khác.
Ðiều 4:
Công ước này chỉ điều chỉnh việc ký kết hợp đồng
mua bán và các quyền và nghĩa vụ của người bán và
người mua phát sinh từ hợp đồng đó. Trừ trường hợp
có quy định khác được nêu trong Công ước, Công
ước không liên quan tới:
a. Tính hiệu lực của hợp đồng, hoặc bất cứ điều
khoản nào của hợp đồng, hoặc bất kỳ tập quán nào.
b. Hậu qủa mà hợp đồng có thể đối với quyền sở
hữu các hàng hóa đã bán.
CISG 1980
2
Ðiều 5:
Công ước này không áp dụng cho trách nhiệm của
người bán trong trường hợp hàng của người bán
gây thiệt hại về thân thể hoặc làm chết một người
nào đó.
Ðiều 6:
Các bên có thể loại bỏ việc áp dụng Công ước này
hoặc với điều kiện tuân thủ điều 12, có thể làm trái
với bất cứ điều khoản nào của Công ước hay sửa đổi
hiệu lực của các điều khoản đó.
CHƯƠNG II
CÁC QUY ĐỊNH CHUNG
Ðiều 7
1. Khi giải thích Công ước này, cần chú trọng đến
tính chất quốc tế của nó, đến sự cần thiết phải hỗ
trợ việc áp dụng thống nhất Công ước và tuân thủ
trong thương mại quốc tế.
2. Các vấn đề liên quan đến đối tượng điều chỉnh
của Công ước này mà không quy định thẳng trong
Công ước thì sẽ được giải quyết chiếu theo các
nguyên tắc chung mà từ đó Công ước được hình
thành hoặc nếu không có các nguyên tắc này, thì
chiếu theo luật được áp dụng theo quy phạm của
tư pháp quốc tế.
Ðiều 8:
1. Nhằm phục vụ Công ước này, tuyên bố và cách
xử sự khác của một bên được giải thích theo đúng
ý định của họ nếu bên kia đã biết hoặc không thể
không biết ý định ấy.
2. Nếu điểm trên không được áp dụng thì tuyên
bố cách xử sự khác của một bên được giải thích
theo nghĩa mà một người có lý trí, nếu người đó
được đặt vào vị trí của phía bên kia trong những
hoàn cảnh tương tự cũng sẽ hiểu như thế.
3. Khi xác định ý muốn của một bên hoặc cách
hiểu của một người có lý trí sẽ hiểu thế nào, cần
phải tính đến mọi tình tiết liên quan, kể cả các
cuộc đàm phán, mọi thực tế mà các bên đã có
trong mối quan hệ tương hỗ của họ, các tập quán
và mọi hành vi sau đó của hai bên.
Ðiều 9:
1. Các bên bị ràng buộc bởi tập quán mà họ đã
thỏa thuận và bởi các thực tiễn đã được họ thiết
lập trong mối quan hệ tương hỗ.
2. Trừ phi có thỏa thuận khác thì có thể cho rằng
các bên ký hợp đồng có ngụ ý áp dụng những tập
quán mà họ đã biết hoặc cần phải biết và đó là
những tập quán có tính chất phổ biến trong
thương mại quốc tế và được các bên áp dụng một
cách thường xuyên đối với hợp đồng cùng chủng loại
trong lĩnh vực buôn bán hữu quan để điều chỉnh hợp
đồng của mình hoặc điều chỉnh việc ký kết hợp đồng
đó.
Ðiều 10: Nhằm phục vụ Công ước này:
a. Nếu một bên có hơn một trụ sở thương mại trở
lên thì trụ sở thương mại của họ sẽ được coi là trụ sở
nào đó có mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng
và đối với việc thực hiện hợp đồng đó, có tính tới
những tình huống mà các bên đều biết hoặc đều dự
đoán được vào bất kỳ lúc nào trước hoặc vào thời
điểm hợp đồng.
b. Nếu một bên không có trụ sở thương mại thì sẽ
lấy nơi cư trú thường xuyên của họ.
Ðiều 11:
Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc
xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu
nào khác về hình thức của hợp đồng. Hợp đồng có
thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời
khai của nhân chứng.
Ðiều 12:
Bất kỳ quy định nào của điều 11, điều 29 hoặc phần
thứ hai của Công ước này cho phép hợp đồng mua
bán, việc thay đổi hoặc đình chỉ hợp đồng theo sự
thỏa thuận của các bên hoặc đơn chào hàng và chấp
nhận đơn chào hàng hay bất kỳ sự thể hiện ý chí nào
của các bên được lập và không phải dưới hình thức
viết tay mà dưới bất cứ hình thức nào sẽ không được
áp dụng khi dù chỉ một trong số các bên có trụ sở
thương mại đặt ở nước là thành viên của Công ước
mà nước đó đã tuyên bố bảo lưu theo điều 96 của
Công ước này. Các bên không được quyền làm trái
với điều này hoặc sửa đổi hiệu lực của nó.
Ðiều 13:
Theo tinh thần của Công ước này, điện báo và telex
cũng được coi là hình thức văn bản.
CISG 1980
3
PHẦN II
KÝ KẾT HỢP ĐỒNG
Ðiều 14:
1. Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay
nhiều người xác định được coi là một chào hàng
nếu có đủ chính xác và nếu nó chỉ rõ ý chí của
người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong
trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó. Một đề
nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn
định số lượng về giá cả một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định những
yếu tố này.
2. Một đề nghị gửi cho những người không xác
định chỉ được coi là một lời mời làm chào hàng,
trừ phi người đề nghị đã phát biểu rõ ràng điều
trái lại.
Ðiều 15:
1. Chào hàng có hiệu lực khi nó tới nơi người
được chào hàng.
2. Chào hàng dù là loại chào hàng cố định, vẫn có
thể bị hủy nếu như thông báo về việc hủy chào
hàng đến người được chào hàng trước hoặc cùng
lúc với chào hàng.
Ðiều 16:
1. Cho tới khi hợp đồng được giao kết, người chào
hàng vẫn có thể thu hồi chào hàng, nếu như thông
báo về việc thu hồi đó tới nơi người được chào
hàng trước khi người này gửi thông báo chấp nhận
chào hàng.
2. Tuy nhiên, chào hàng không thể bị thu hồi:
a. Nếu nó chỉ rõ, bằng cách ấn định một thời hạn
xác định để chấp nhận hay bằng cách khác, rằng
nó không thể bị thu hồi, hoặc
b. Nếu một cách hợp lý người nhận coi chào hàng
là không thể thu hồi được và đã hành động theo
chiều hướng đó.
Ðiều 17:
Chào hàng, dù là loại cố định, sẽ mất hiệu lực khi
người chào hàng nhận được thông báo về việc từ
chối chào hàng.
Ðiều 18:
1. Một lời tuyên bố hay một hành vi khác của
người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào
hàng cấu thành chấp nhận chào hàng. Sự im lặng
hoặc bất hợp tác vì không mặc nhiên có giá trị một sự
chấp nhận.
2. Chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi người
chào hàng nhận được chấp nhận. Chấp thuận chào
hàng không phát sinh hiệu lực nếu sự chấp nhận ấy
không được gửi tới người chào hàng trong thời hạn
mà người này đã quy định trong chào hàng, hoặc nếu
thời hạn đó không được quy định như vậy, thì trong
một thời hạn hợp lý, xét theo các tình tiết của sự giao
dịch, trong đó có xét đến tốc độ của các phương tiện
liên lạc do người chào hàng sử dụng. Một chào hàng
bằng miệng phải được chấp nhận ngay trừ phi các
tình tiết bắt buộc ngược lại.
3. Tuy nhiên nếu do hiệu lực của chào hàng hoặc do
thực tiễn đã có giữa hai bên trong mối quan hệ tương
hỗ hoặc tập quán thì người được chào hàng có thể
chứng tỏ sự chấp thuận của mình bằng cách làm một
hành vi nào đó như hành vi liên quan đến việc gửi
hàng hay trả tiền chẳng hạn dù họ không thông báo
cho người chào hàng thì chấp nhận chào hàng chỉ có
hiệu lực từ khi những hành vi đó được thực hiện với
điều kiện là những hành vi đó phải được thực hiện
trong thời hạn đã quy định tại điểm trên.
Ðiều 19:
1. Một sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận
chào hàng nhưng có chứa đựng những điểm bổ sung,
bớt đi hay các sửa đổi khác thì được coi là từ chối
chào hàng và cấu thành một hoàn giá.
2. Tuy nhiên một sự phúc đáp có khuynh hướng
chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng các điều
khoản bổ sung hay những điều khoản khác mà không
làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng
thì được coi là chấp nhận chào hàng, trừ phi người
chào hàng ngay lập tức không biểu hiện bằng miệng
để phản đối những điểm khác biệt đó hoặc gửi thông
báo về sự phản đối của mình cho người được chào
hàng. Nếu người chào hàng không làm như vậy, thì
nội dung của hợp đồng sẽ là nội dung của chào hàng
với những sự sửa đổi nêu trong chấp nhận chào hàng.
3. Các yếu tố bổ sung hay sửa đổi liên quan đến các
điều kiện giá cả, thanh toán, đến phẩm chất và số
lượng hàng hóa, địa điểm và thời hạn giao hàng, đến
phạm vi trách nhiệm của các bên hay đến sự giải
quyết tranh chấp được coi là những điều kiện làm
biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng.
CISG 1980
4
Ðiều 20:
1. Thời hạn để chấp nhận chào hàng do người
chào hàng quy định trong điện tín hay thư bắt đầu
tính từ lúc bức điện được giao để gửi đi hoặc vào
ngày ghi trên thư hoặc nếu ngày đó không có thì
tính từ ngày bưu điện đóng dấu trên bì thư. Thời
hạn để chấp nhận chào hàng do người chào hàng
quy định bằng điện thoại, bằng telex hoặc bằng
phương tiện thông tin liên lạc khác, bắt đầu tính từ
thời điểm người được chào hàng nhận được chào
hàng.
2. Các ngày lễ chính thức hay ngày nghỉ việc rơi
vào khoảng thời hạn được quy định để chấp nhận
chào hàng không được trừ, khi tính thời hạn đó.
Tuy nhiên, nếu không báo về việc chấp nhận chào
hàng không thể giao tại địa chỉ của người chào
hàng vào ngày cuối cùng của thời hạn quy định
bởi vì ngày cuối cùng đó là ngày lễ hay ngày nghỉ
việc tại nơi có trụ sở thương mại của người chào
hàng, thì thời hạn chấp nhận chào hàng sẽ được
kéo dài tới ngày làm việc đầu tiên kế tiếp các ngày
đó.
Ðiều 21:
1. Một chấp nhận chào hàng muộn màng cũng có
hiệu lực của một chấp nhận nếu người chào hàng
phải thông báo miệng không chậm trễ cho người
nhận chào hàng hoặc gửi cho người này một
thông báo về việc đó.
2. Nếu thư từ hay văn bản khác do người nhận chào
hàng gửi đi chứa đựng một sự chấp nhận chậm trễ mà
thấy rõ rằng nó đã được gửi đi trong những điều kiện
mà, nếu sự chuyển giao bình thường, nó đã đến tay
người chào hàng kịp thời, thì sự chấp nhận chậm trễ
được coi như chấp nhận đến kịp thời, trừ phi không
chậm trễ người chào hàng thông báo miệng hoặc gửi
thông báo bằng văn bản cho người được chào hàng
biết người chào hàng coi chào hàng của mình đã hết
hiệu lực.
Ðiều 22:
Chấp nhận chào hàng có thể bị hủy nếu thông báo về
việc hủy chào hàng tới nơi người chào hàng trước
hoặc cùng một lúc khi chấp nhận có hiệu lực.
Ðiều 23:
Hợp đồng được coi là đã ký kết kể từ lúc sự chấp
nhận chào hàng có hiệu lực chiểu theo các quy định
của công ước này.
Ðiều 24:
Theo tinh thần của Phần II Công ước này, một chào
hàng, một thông báo chấp nhận chào hàng hoặc bất
cứ một sự thể hiện ý chí nào cũng được coi là “tới
nơi” người được chào hàng khi được thông tin bằng
lời nói với người này, hoặc được giao bằng bất cứ
phương tiện nào cho chính người được chào hàng tại
trụ sở thương mại của họ, tại địa chỉ bưu chính hoặc
nếu họ không có trụ sở thương mại hay địa chỉ bưu
chính thì gửi tới nơi thường trú của họ.
PHẦN BA: MUA BÁN HÀNG HOÁ
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Ðiều 25:
Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi
phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia
bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng
mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi
trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không
tiên liệu được hậu qủa đó và một người có lý trí
minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ
cũng ở vào hoàn cảnh tương tự.
Ðiều 26:
Một lời tuyên bố về việc hủy hợp đồng chỉ có hiệu
lực nếu được thông báo cho bên kia biết.
Ðiều 27:
Bởi vì trong Phần II của Công ước này không có quy
định gì khác nên, trong trường hợp, nếu thông báo
yêu cầu hay thông tin khác đã được thực hiện bởi một
bên của hợp đồng chiếu theo Phần III này và bằng
một phương tiện thích hợp với hoàn cảnh, thì một sự
chậm trễ hoặc lầm lẫn trong việc chuyển giao thông
tin hoặc sự thông tin không đến người nhận, cũng sẽ
không làm bên đó mất quyền viện dẫn các thông tin
của mình.
Ðiều 28:
Nếu một bên có quyền yêu cầu bên kia phải thi hành
một nghĩa vụ nào đó thì chiếu theo các quy định của
Công ước này, Tòa án không bị bắt buộc phải đưa ra
phán quyết buộc bên kia thực hiện thực sự hợp đồng
trừ trường hợp nếu tòa án ra phán quyết đó trên cơ sở
CISG 1980
5
luật nước mình đối với các hợp đồng mua bán
tương tự không do Công ước này điều chỉnh.
Ðiều 29:
1. Một hợp đồng có thể được sửa đổi hay chấm
dứt bằng thỏa thuận đơn thuần giữa các bên.
2. Một hợp đồng bằng văn bản chứa đựng một
điều khoản quy định rằng mọi sự sửa đổi hoặc
chấm dứt hợp đồng phải được các bên làm bằng văn
bản thì không thể bị sửa đổi hay chấm dứt theo thỏa
thuận giữa các bên dưới một hình thức khác. Tuy
nhiên hành vi của mỗi bên có thể không cho phép họ
được viện dẫn điều khoản ấy trong chừng mực nếu
bên kia căn cứ vào hành vi này.
CHƯƠNG II
NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN
Ðiều 30:
Người bán có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ liên quan đến hàng hoá và chuyển giao quyền sở hữu về hàng
hoá theo đúng quy định của hợp đồng và của Công ước này.
Mục I:
GIAO HÀNG VÀ CHUYỂN GIAO CHỨNG TỪ
Ðiều 31:
Nếu người bán không bắt buộc phải giao hàng tại
một nơi nhất định nào đó, thì nghĩa vụ giao hàng
của người này là:
a. Nếu hợp đồng mua bán quy định cả việc vận
chuyển hàng hoá thì người bán phải giao hàng cho
người chuyên chở đầu tiên để chuyển giao cho
người mua.
b. Nếu trong những trường hợp không dự liệu bởi
điểm nói trên, mà đối tượng của hợp đồng mua
bán là hàng đặc định hoặc là hàng đồng loại phải
được trích ra từ một khối lượng dự trữ xác định
hoặc phải được chế tạo hay sản xuất ra và vào lúc
ký kết hợp đồng, các bên đã biết rằng hàng đã có
hay đã phải được chế tạo hoặc sản xuất ra tại một
nơi nào đó thì người bán phải có nghĩa vụ đặt
hàng dưới quyền định đoạt của người mua tại nơi
đó.
c. Trong các trường hợp khác, người bán có
nghĩa vụ đặt hàng dưới quyền định đoạt của người
mua tại nơi nào mà người bán có trụ sở thương
mại vào thời điểm ký kết hợp đồng.
Ðiều 32:
1. Nếu chiếu theo hợp đồng hay công ước này,
người bán giao hàng cho một người chuyên chở,
và nếu hàng không được cá biệt hoá một cách rõ
ràng dành cho mục đích của hợp đồng bằng cách
ghi ký mã hiệu trên hàng hoá, bằng các chứng từ
chuyên chở hay bằng một cách khác, thì người
bán phải thông báo cho người mua biết về việc họ
đã gửi hàng kèm theo chỉ dẫn về hàng hoá.
2. Nếu người bán có nghĩa vụ phải thu xếp việc
chuyên chở hàng hoá, thì họ phải ký kết các hợp
đồng cần thiết để việc chuyên chở được thực hiện tới
đích, bằng các phương tiện chuyên chở thích hợp với
hoàn cảnh cụ thể và theo các điều kiện thông thường
đối với phương thức chuyên chở.
3. Nếu người bán không có nghĩa vụ phải bảo hiểm
hàng hoá trong quá trình hàng chuyên chở, thì họ
phải cung cấp cho người mua, nếu người này yêu
cầu, mọi thông tin cần thiết mà họ có thể giúp người
mau ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Ðiều 33: Người bán phải giao hàng
a) Ðúng vào ngày giao hàng mà hợp đồng đã quy
định, hay có thể xác định được bằng cách tham chiếu
vào hợp đồng.
b) Vào bất kỳ thời điểm nào trong khoảng thời gian
được hợp đồng ấn định hay có thể xác định được
khoảng thời gian giao hàng bằng cách tham chiếu vào
hợp đồng, nếu như không thể căn cứ vào các tình tiết
để biết ngày giao hàng mà người mua ấn định là ngày
nào.
c) Trong trường hợp khác, trong một thời gian hợp lý
sau khi hợp đồng được ký kết.
Ðiều 34:
Nếu người bán phải có nghĩa vụ phải giao các chứng
từ liên quan đến hàng hoá thì họ phải thi hành nghĩa
vụ này đúng thời hạn, đúng địa điểm và đúng hình
thức như quy định trong hợp đồng. Trong trường hợp
người bán giao chứng từ trước kỳ hạn, thì họ có thể,
CISG 1980
6
trước khi hết thời hạn quy định sẽ giao chứng từ,
loại bỏ bất kỳ điểm nào không phù hợp với chứng
từ với điều kiện là việc làm này không gây cho
người mua một trở ngại hay phí tổn vô lý nào. Tuy
nhiên, người mua vẫn có quyền đòi người bán bồi
thường thiệt hại chiếu theo Công ước này.
Mục II:
TÍNH PHÙ HỢP CỦA HÀNG HOÁ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI THỨ BA
Ðiều 35:
1. Người bán giao hàng đúng số lượng, phẩm
chất và mô tả như quy định trong hợp đồng, và
đúng bao bì hay đóng gói như hợp đồng yêu cầu.
2. Ngoại trừ những trường hợp đã được các bên
thỏa thuận khác, hàng hóa bị coi là không phù hợp
với hợp đồng nếu:
a. Hàng hóa không thích hợp cho các mục đích sử
dụng mà các hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp
ứng.
b. Hàng không thích hợp cho bất kỳ mục đích cụ
thể nào mà người bán đã trực tiếp hoặc gián tiếp
biết được vào lúc ký hợp đồng, trừ trường hợp nếu
căn cứ vào các hoàn cảnh cụ thể có thể thấy rằng
không dựa vào ý kiến hay sự phán đoán của người
bán hoặc nếu đối với họ làm như thế là không hợp
lý.
c. Hàng không có các tính chất của hàng mẫu
hoặc kiểu dáng mà người bán đã cung cấp cho
người mua.
d. Hàng không được đóng phong bì theo cách
thông thường cho những hàng cùng loại hoặc, nếu
không có cách thông thường, thì bằng cách thích
hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng hoá đó
3. Người bán không chịu trách nhiệm về việc
giao hàng không đúng hợp đồng như đã nêu trong
các điểm từ a đến d của khoản trên nếu như người
mua đã biết hoặc không thể không biết về việc
hàng không phù hợp vào lúc ký kết hợp đồng.
Ðiều 36:
1. Người bán chịu trách nhiệm chiếu theo hợp
đồng và Công ước này, về mọi sự không phù hợp
nào của hàng hóa mà sự không phù hợp đó vào
lúc chuyển giao quyền rủi ro sang người mua,
ngay cả khi sự không phù hợp của hàng hóa chỉ
được phát hiện sau đó.
2. Người bán cũng chịu trách nhiệm về mọi sự
không phù hợp của hàng hóa xảy ra sau thời điểm
đã nói ở điểm trên và là hậu quả của việc người
bán vi phạm bất cứ một nghĩa vụ nào của mình, kể cả
việc không thể hoàn toàn đảm bảo rằng trong một
thời hạn nào đó, hàng hóa vẫn thích hợp cho mục
đích sử dụng thông thường hay mục đích cụ thể hoặc
vẫn duy trì được những tính chất hay đặc tính đã quy
định.
Ðiều 37:
Trong trường hợp giao hàng trước thời hạn, người
bán có quyền, cho tới trước khi hết hạn giao hàng,
giao một phần hay một số lượng thiếu, hoặc giao
hàng mới thay cho hàng đã giao không phù hợp với
hợp đồng, hoặc khắc phục mọi sự không phù hợp của
hàng hóa đã giao với điều kiện là việc làm đó của
người bán không gây cho người mua một trở ngại
hay phí tổn vô lý nào. Tuy nhiên người mua có quyền
đòi hỏi bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này.
Ðiều 38:
1. Người mua phải kiểm tra hàng hóa hoặc bảo đảm
đã có sự kiểm tra hàng hóa trong một thời hạn ngắn
nhất mà thực tế có thể làm được tuỳ tình huống cụ
thể.
2. Nếu hợp đồng có quy định về việc chuyên chở
hàng hóa, thì việc kiểm tra hàng có thể được dời lại
đến lúc hàng tới nơi đến.
3. Nếu địa điểm đến của hàng bị thay đổi trong thời
gian hàng đang trên đường vận chuyển hoặc hàng
được người mua gửi đi tiếp và khi đó người mua
không có khả năng hợp lý để kiểm tra hàng hóa, còn
người bán đã biết hay đáng lẽ phải biết khi ký kết hợp
đồng về khả năng đổi lộ trình hay gửi tiếp đó, thì việc
kiểm tra có thể được dời lại đến khi hàng tới nơi đến
mới.
Ðiều 39:
1. Người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng
hóa không phù hợp hợp đồng nếu người mua không
thông báo cho người bán những tin tức về việc không
phù hợp đó trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người
mua đã phát hiện ra sự không phù hợp đó.
2. Trong mọi trường hợp, người mua bị mất quyền
khiếu nại về việc hàng không phù hợp với hợp đồng
nếu họ không thông báo cho người bán biết về việc
CISG 1980
7
đó chậm nhất trong thời hạn 2 năm kể từ ngày
hàng hóa đã thực sự được giao cho người mua trừ
phi thời hạn này trái ngược với thời hạn bảo hành
quy định trong hợp đồng.
Ðiều 40:
Người bán không có quyền viện dẫn các quy định
của các điều 38 và 39 nếu như sự không phù hợp
của hàng hóa liên quan đến các yếu tố mà người
bán đã biết hoặc không thể không biết và họ đã
không thông báo cho người mua.
Ðiều 41:
Người bán phải giao những hàng hóa không bị
ràng buộc bởi bất cứ quyền hạn hay yêu sách nào
của người thứ ba trừ trường hợp người mua đồng
ý nhận loại hàng bị ràng buộc vào quyền hạn và
yêu sách như vậy. Tuy nhiên, nếu những quyền
hạn và yêu sách đó được hình thành trên cơ sở sở
hữu công nghiệp hay sở hữu trí tuệ khác thì nghĩa
vụ của người bán sẽ được điều chỉnh theo điều 42.
Ðiều 42:
Người bán phải giao những hàng hóa không bị
ràng buộc bởi bất cứ quyền hạn hay yêu sách nào
của người thứ ba trên cơ sở sở hữu trí tuệ khác mà
người bán đã biết hoặc không biết vào thời điểm
ký kết hợp đồng, với điều kiện nếu các quyền và
yêu sách nói trên được hình thành trên cơ sở sở
hữu công nghiệp hoặc sở hữu trí tuệ khác.
a. Chiếu theo pháp luật của quốc gia nơi hàng
hóa sẽ được bán lại hay sử dụng bằng cách khác,
nếu các bên có dự đoán vào lúc ký kết hợp đồng
rằng hàng hóa sẽ được bán lại hay sử dụng bằng
cách khác tại quốc gia đó, hoặc là:
b. Trong mọi trường hợp khác – chiểu theo luật pháp
của quốc gia có trụ sở thương mại của người mua.
Trong trường hợp sau đây, người bán không bị ràng
buộc bởi các nghĩa vụ nêu trên, nếu:
a. Vào lúc ký kết hợp đồng, người mua đã biết hoặc
không thể không biết về sự hiện hữu của quyền lợi
hay yêu sách nói trên, hoặc là:
b. Quyền lợi hay yêu sách bắt nguồn từ sự kiện
người bán đã tuân theo các bản thiết kế kỹ thuật, hình
vẽ, công thức hay những số liệu cơ sở do người mua
cung cấp.
Ðiều 43:
1. Người mua mất quyền khiếu nại dựa vào các quy
định của điều 41 và điều 42 nếu như họ không thông
báo cho người bán những tin tức về tính chất của
quyền hạn hay yêu sách của người thứ ba, trong một
thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã biết hay đáng
lẽ phải biết về quyền hoặc yêu sách đó.
2. Người bán không có quyền viện dẫn những sự
quy định từ điểm 1 nêu trên nếu người bán đã biết về
quyền hạn hay yêu sách của người thứ ba và về tính
chất của quyền hạn hay yêu sách đó.
Ðiều 44:
Bất chấp những quy định của điểm 1 điều 39 và
khoản 1 điều 43, người mua có thể giảm giá chiếu
theo điều 50 hay đòi bồi thường thiệt hại, ngoại trừ
khoản lợi bị bỏ lỡ, nếu người mua có lý do hợp lý để
giải thích vì sao họ không thông báo tin tức cần thiết
cho người bán.
Mục III:
CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ HỢP LÝ TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI BÁN VI PHẠM HỢP ĐỒNG.
Ðiều 45:
1. Nếu người bán đã không thực hiện một nghĩa
vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng mua bán
hay Công ước này, thì người mua có căn cứ để:
a. Thực hiện những quyền hạn của mình theo
quy định tại các điều từ 46 đến 52.
b. Ðòi bồi thường thiệt hại như đã quy định tại
các điều từ 74 đến 77.
2. Người mua không mất quyền đòi bồi thường
thiệt hại khi họ sử dụng quyền dùng một biện
pháp bảo hộ pháp lý khác.
3. Không một thời hạn trì hoãn nào có thể được Tòa
án hay Trọng tài ban cho người bán khi người mua sử
dụng đến bất kỳ biện pháp bảo hộ pháp lý nào trong
trường hợp người bán vi phạm hợp đồng.
Ðiều 46:
1. Người mua có thể yêu cầu người bán phải thực
hiện nghĩa vụ, trừ phi người mua sử dụng một biện
pháp bảo hộ pháp lý không hợp với yêu cầu đó.
2. Nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì
người mua có thể đòi người bán phải giao hàng thay
thế nếu sự không phù hợp đó tạo thành một sự vi
phạm cơ bản hợp đồng và yêu cầu về việc thay thế
CISG 1980
8
hàng phải được đặt ra cùng một lúc với việc thông
báo những dữ kiện chiếu theo điều 39 hoặc trong
một thời hạn hợp lý sau đó.
3. Nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng,
người mua có quyền đòi người bán phải loại trừ
sự không phù hợp ấy, trừ những trường hợp khi
điều này không hợp lý xét theo tất cả các tình tiết.
Việc yêu cầu loại trừ sự không phù hợp của hàng
hóa so với hợp đồng phải được tiến hành hoặc là
cùng một lúc với thông báo những dữ kiện chiếu
theo điều 39 hoặc trong một thời hạn hợp lý sau
đó.
Ðiều 47:
1. Người mua có thể cho người bán thêm một
thời hạn bổ sung hợp lý để người bán thực hiện
nghĩa vụ.
2. Trừ phi người mua đã được người bán thông
báo rằng người bán sẽ không thực hiện nghĩa vụ
của mình trong thời hạn bổ sung đó, người mua
không được sử dụng đến bất cứ biện pháp bảo hộ
pháp lý nào trong trường hợp người bán vi phạm
hợp đồng trước khi thời hạn bổ sung kết thúc. Tuy
nhiên ngay cả trong trường hợp này người mua
cũng không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại do
người bán chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ
của mình.
Ðiều 48:
1. Với điều kiện tuân thủ quy định của điều 49
người bán có thể, ngay cả sau khi hết thời hạn
giao hàng, loại trừ mọi thiếu sót trong việc thực
hiện nghĩa vụ của mình, phí tổn do người bán
chịu, với điều kiện là điều đó không kéo theo một
sự chậm trễ vô lý mà không gây ra cho người mua
những trở ngại phi lý hay tình hình bất định về
việc người bán phải hoàn trả các phí tổn mà người
mua gánh chịu. Tuy nhiên, người mua duy trì
quyền đòi bồi thường thiệt hại chiếu theo Công
ước này.
2. Nếu người bán yêu cầu người mua cho biết là
người mua có chấp nhận việc loại trừ thiếu sót nói
trên của người bán hay không và nếu người mua
không đáp ứng yêu cầu này của người bán trong
một thời hạn hợp lý, thì người bán có thể loại trừ
thiếu sót đó trong phạm vi thời hạn mà người bán
đã ghi trong đơn yêu cầu. Người mua không thể,
trước khi mãn hạn ấy, sử dụng bất cứ biện pháp
bảo hộ pháp lý nào không thích hợp cho việc thi
hành nghĩa vụ của người bán.
3. Nếu người bán thông báo cho người mua rằng
người bán sẽ thực hiện việc loại trừ thiếu sót trong
một thời hạn ấn định thì cần hiểu rằng thông báo nói
trên bao gồm cả yêu cầu người mua cho biết họ chấp
nhận việc loại trừ thiếu sót hay không chiếu theo quy
định của khoản 2 nói trên.
4. Yêu cầu hay thông báo của người bán theo quy
định của các khoản 2 hay 3 của điều này sẽ không có
hiệu lực nếu người mua không nhận được.
Ðiều 49:
1. Người mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng:
a. Nếu việc người bán không thực hiện một nghĩa vụ
nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng hay từ Công ước
này cấu thành một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng,
hoặc:
b. Trong trường hợp không giao hàng: Nếu người
bán không giao hàng trong thời gian đã được người
mua gia hạn thêm cho họ chiếu theo khoản 1 điều 47
hoặc nếu người bán tuyên bố sẽ không giao hàng
trong thời gian được gia hạn này.
2. Tuy nhiên trong trường hợp nếu người bán đã
giao hàng thì người mua sẽ mất quyền hủy hợp đồng
nếu người mua đã không tuyên bố hủy hợp đồng.
a. Khi người mua giao hàng chậm trong một thời
hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã biết rằng việc giao
hàng đã được thực hiện .
b. Ðối với mọi trường hợp vi phạm trừ trường hợp
giao hàng chậm trễ, trong một thời hạn hợp lý:
i. Kể từ lúc người mua đã biết hay đáng lẽ phải biết
về sự vi phạm đó.
ii. Sau khi đã hết mọi thời hạn mà người mua đã gia
hạn thêm cho người bán chiếu theo khoản 1 điều 47
hoặc sau khi người bán đã tuyên bố rằng, họ sẽ không
thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn đã được
gia hạn thêm đó, hoặc:
iii. Sau khi đã hết mọi thời hạn bổ sung mà người
bán đã yêu cầu chiếu theo khoản 2 điều 48 hay sau
khi người mua đã tuyên bố là họ không chấp nhận
cho người bán thực hiện nghĩa vụ.
Ðiều 50:
Trong trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp
đồng, dù tiền hàng đã được trả hay chưa người mua
có thể giảm giá hàng theo tỷ lệ căn cứ vào sự sai biệt
giữa giá trị thực của hàng hóa vào lúc giao hàng và
CISG 1980
9
giá trị của hàng hóa nếu hàng phù hợp hợp đồng
vào lúc giao hàng. Tuy nhiên, nếu người bán loại
trừ mọi thiếu sót trong việc thực hiện nghĩa vụ
chiếu theo điều 37 hoặc điều 48 hoặc nếu người
mua từ chối chấp nhận việc thực hiện của người
bán chiếu theo các điều này thì người mua không
được giảm giá hàng.
Ðiều 51:
1. Nếu người bán chỉ giao một phần hàng hóa
hoặc nếu chỉ một phần hàng hóa đã giao phù hợp
với hợp đồng thì các điều 46 đến 50 sẽ được áp
dụng đối với phần hàng hóa thiếu hoặc phần hàng
không phù hợp với hợp đồng.
2. Người mua chỉ được tuyên bố hủy bỏ toàn bộ
hợp đồng, nếu việc không thực hiện hợp đồng
hoặc một phần hàng giao không phù hợp với hợp
đồng cấu thành một sự vi phạm chủ yếu hợp đồng.
Ðiều 52:
1. Nếu người bán giao hàng trước thời hạn quy định
thì người mua được quyền lựa chọn hoặc chấp nhận
hoặc từ chối việc giao hàng đó.
2. Nếu người bán giao một số lượng nhiều hơn số
lượng quy định trong hợp đồng, thì người mua có thể
chấp nhận hay từ chối việc giao số lượng phụ trội,
nếu người mua chấp nhận toàn bộ hoặc một phần số
lượng phụ trội nói trên thì người mua phải trả tiền
hàng phụ trội. Nếu người mua chấp nhận toàn bộ
hoặc một phần số lượng phụ trội nói trên thì người
mua phải trả tiền hàng phụ trội theo giá hợp đồng quy
định.
CHƯƠNG III
NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI MUA
Ðiều 53:
Người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy định của hợp đồng và của Công ước này.
MỤC I.
THANH TOÁN TIỀN HÀNG
Ðiều 54:
Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của người mua bao
gồm các việc áp dụng các biện pháp tuân thủ các
thủ tục mà hợp đồng hoặc luật lệ đòi hỏi để có thể
thực hiện được thanh toán tiền hàng.
Ðiều 55:
Trong những trường hợp, nếu hợp đồng đã được
ký kết một cách hợp pháp, nhưng trong hợp đồng
không quy định giá cả một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp, hoặc không quy định cách xác định giá
thì được phép suy đoán rằng, các bên, trừ phi có
quy định trái ngược, đã có ngụ ý dựa vào giá đã
được ấn định cho loại hàng hóa như vậy khi hàng
hóa này được đem bán trong những điều kiện
tương tự của ngành buôn bán hữu quan.
Ðiều 56:
Nếu giá cả được ấn định theo trọng lượng của
hàng hóa thì trong trường hợp có nghi ngờ, giá sẽ
được xác định theo trọng lượng tịnh.
Ðiều 57:
1. Nếu người mua không có nghĩa vụ phải thanh
toán tiền hàng tại một địa điểm quy định nào đó
thì họ phải trả tiền cho người bán:
a. Tại nơi có trụ sở thương mại của người bán hoặc:
b. Tại nơi giao hàng hoặc chứng từ nếu việc trả tiền
phải được làm cùng lúc với việc giao hàng hoặc
chứng từ.
2. Người bán phải gánh chịu mọi sự gia tăng phí tổn
để thực hiện việc thanh toán do sự thay đổi địa điểm
của trụ sở thương mại của mình sau khi hợp đồng
được ký kết.
Ðiều 58:
1. Nếu người mua không có nghĩa vụ phải trả tiền
vào một thời hạn cụ thể nào nhất định, thì họ phải trả
khi, chiếu theo hợp đồng và Công ước này, người bán
đặt dưới quyền định đoạt của người mua, hoặc hàng
hóa hoặc các chứng từ nhận hàng. Người bán có thể
đặt điều kiện phải thanh toán như vậy để đổi lại việc
họ giao hàng hoặc chứng từ.
2. Nếu hợp đồng quy định việc chuyên chở hàng
hóa, người bán có thể gửi hàng đi với điều kiện là
hàng hay chứng từ nhận hàng chỉ được giao cho
người mua khi người mua thanh toán tiền hàng.
3. Người mua không có nghĩa vụ phải thanh toán
tiền hàng trước khi họ có thể kiểm tra hàng hóa, trừ
CISG 1980
10
những trường hợp mà có thể thức giao hàng hay
trả tiền do các bên thỏa thuận không cho phép làm
việc đó.
Ðiều 59:
Người mua phải trả tiền vào ngày thanh toán đã quy
định hoặc có thể được xác định theo hợp đồng và
Công ước này, mà không cần có một lời yêu cầu hay
việc thực hiện một thủ tục nào khác về phía người
bán.
MỤC II:
NHẬN HÀNG
Ðiều 60:
Nghĩa vụ nhận hàng của người mua gồm:
a. Thực hiện mọi hành vi mà người ta có quyền chờ đợi ở họ một cách hợp lý để cho phép người bán thực hiện
việc giao hàng và.
b. Tiếp nhận hàng hóa.
MỤC III.
CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ PHÁP LÝ TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI MUA VI PHẠM HỢP ĐỒNG
Ðiều 61:
1. Nếu người mua không thực hiện một nghĩa vụ
nào đó theo hợp đồng mua bán hay bản Công ước
này, thì người bán có thể:
a. Thực hiện các quyền quy định tại các điều 62
và 65.
b. Ðòi bồi thường thiệt hại như quy định tại các
điều từ 74 đến 77.
2. Người bán không mất quyền đòi bồi thường
thiệt hại khi họ sử dụng quyền áp dụng các biện
pháp bảo hộ pháp lý khác.
3. Không một thời hạn gia hạn nào có thể được
tòa án hay Trọng tài ban cho người mua khi người
bán viện dẫn một biện pháp bảo hộ pháp lý nào đó
mà họ có quyền sử dụng trong trường hợp người
mua vi phạm hợp đồng.
Ðiều 62:
Người bán có thể yêu cầu người mua trả tiền,
nhận hàng hay thực hiện các nghĩa vụ khác của
người mua, trừ phi họ sử dụng một biện pháp bảo
hộ pháp lý khác không thích hợp với các yêu cầu
đó.
Ðiều 63:
1. Người bán có thể chấp nhận cho người mua
một thời hạn bổ sung hợp lý để thực hiện nghĩa vụ
của mình.
2. Trừ phi nhận được thông báo của người mua
cho biết sẽ không thực hiện nghĩa vụ trong thời
gian ấy, người bán, trước khi mãn hạn, không thể
viện dẫn bất cứ một biện pháp bảo hộ pháp lý nào mà
họ được sử dụng trong trường hợp người mua vi
phạm hợp đồng. Tuy nhiên, do sự việc này, người
bán không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại vì
người mua chậm thực hiện nghĩa vụ.
Ðiều 64:
1. Người bán có thể tuyên bố hủy hợp đồng:
a. Nếu sự kiện người mua không thi hành nghĩa vụ
nào đó của họ theo hợp đồng hay Công ước hay cấu
thành một sự vi phạm chủ yếu hợp đồng, hoặc.
b. Nếu người mua không thi hành nghĩa vụ trả tiền
hoặc không nhận hàng trong thời hạn bổ sung mà
người bán chấp nhận cho họ chiếu theo khoản 1 điều
63 hay nếu họ tuyên bố sẽ không làm việc đó trong
thời hạn ấy.
2. Tuy nhiên trong những trường hợp khi người mua
đã trả tiền, người bán mất quyền tuyên bố hủy hợp
đồng nếu họ không làm việc này:
a. Trong trường hợp người mua chậm thực hiện
nghĩa vụ – trước khi người bán biết nghĩa vụ đã được
thực hiện, hoặc:
b. Trong trường hợp người mua vi phạm bất cứ
nghĩa vụ nào khác ngoài việc chậm trễ – trong một
thời hạn hợp lý:
– Kể từ lúc người bán đã biết hay đáng lẽ phải biết sự
vi phạm đó, hoặc:
CISG 1980
11
– Sau khi hết mọi thời hạn bổ sung mà người bán
chấp nhận chiếu theo khoản 1 điều 63 hay sau khi
người mua đã tuyên bố rằng họ sẽ không thực
hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn bổ sung đó.
Ðiều 65:
1. Nếu theo hợp đồng người mua phải xác định
hình dáng, kích thước hay những đặc điểm khác
đặc trưng của hàng hóa và nếu người mua không
làm điều ấy vào thời hạn đã thỏa thuận hay trong
một thời hạn hợp lý kể từ lúc nhận được yêu cầu
của người bán, thì người bán có thể tự mình xác
định hàng hóa chiếu theo nhu cầu của người mua mà
họ có thể biết mà không làm hại đến các quyền lợi
khác.
2. Nếu chính người bán tự mình thực hiện việc xác
định hàng hóa, họ phải báo chi tiết cho người mua
biết nội dung việc xác định và cho người mua một
thời hạn hợp lý để người này có thể xác định khác.
Nếu, sau khi nhận được thông báo của người bán mà
người mua không sử dụng khả năng này trong thời
hạn nói trên, thì sự xác định hàng hóa do người bán
thực hiện có tính chất bắt buộc.
CHƯƠNG IV
CHUYỂN RỦI RO
Ðiều 66:
Việc mất mát hay hư hỏng hàng hóa xảy ra sau
khi rủi ro chuyển sang người mua không miễn trừ
cho người này nghĩa vụ phải trả tiền, trừ phi việc
mất mát hay hư hỏng ấy là do hành động của
người bán gây nên.
Ðiều 67:
1. Khi hợp đồng mua bán quy định việc vận
chuyển hàng hóa và người bán không bị buộc phải
giao hàng tại nơi xác định, rủi ro được chuyển
sang người mua kể từ lúc hàng được giao cho
người chuyên chở thứ nhất để chuyển giao cho
người mua chiếu theo hợp đồng mua bán. Nếu
người bán bị buộc phải giao hàng cho một người
chuyên chở tại một nơi xác định, các rủi ro không
được chuyển sang người mua nếu hàng hóa chưa
được giao cho người chuyên chở tại nơi đó. Sự
kiện người bán được phép giữ lại các chứng từ
nhận hàng không ảnh hưởng gì đến sự chuyển
giao rủi ro.
2. Tuy nhiên, rủi ro không được chuyển sang
người mua nếu hàng hóa không được đặc định hóa
rõ ràng cho mục đích của hợp đồng hoặc bằng
cách ghi ký mã hiệu trên hàng hóa, bằng các
chứng từ chuyên chở, bằng một thông báo gửi cho
người mua hoặc bằng bất cứ phương pháp nào
khác.
Ðiều 68:
Người mua nhận rủi ro về mình đối với những
hàng hóa bán trên đường vận chuyển kể từ lúc
hàng hóa được giao cho người chuyên chở là
người đã phát chứng từ xác nhận một hợp đồng
vận chuyển. Tuy nhiên, nếu vào lúc ký kết hợp đồng
mua bán, người bán đã biết hoặc đáng lẽ phải biết sự
kiện hàng hóa đã bị mất mát hay hư hỏng và đã
không thông báo cho người mua về điều đó thì việc
mất mát hay hư hỏng hàng hóa do người bán phải
gánh chịu.
Ðiều 69:
1. Trong các trường hợp không được nêu tại các
điều 67 và 68, các rủi ro được chuyển sang người
mua khi người này nhận hàng hoặc, nếu họ không
làm việc này đúng thời hạn quy định, thì kể từ lúc
hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người
mua và người mua đã vi phạm hợp đồng vì không
chịu nhận hàng.
2. Tuy nhiên, nếu người mua bị ràng buộc phải nhận
hàng tại một nơi khác với nơi có xí nghiệp thương
mại của người bán, rủi ro được chuyển giao khi thời
hạn giao hàng phải được thực hiện và người mua biết
rằng hàng hóa đã được đặt dưới quyền định đoạt của
họ tại nơi đó.
3. Nếu hợp đồng mua bán liên quan đến hàng hóa
chưa được cá biệt hóa, hàng chỉ được coi là đã đặt
dưới quyền định đoạt của người mua khi nào nó được
đặc định hóa rõ ràng cho mục đích của hợp đồng
này.
Ðiều 70:
Nếu người bán gây ra một sự vi phạm chủ yếu đối
với hợp đồng, thì các quy định của những điều 67,
68, 69, không ảnh hưởng đến quyền của người mua
sử dụng các biện pháp bảo hộ pháp lý trong trường
hợp xảy ra vi phạm như vậy.
CISG 1980
12
CHƯƠNG V
CÁC ĐIỀU KHOẢN CHUNG CHO NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN VÀ NGƯỜI MUA
MỤC I:
VI PHẠM TRƯỚC VÀ CÁC HỢP ĐỒNG GIAO HÀNG TỪNG PHẦN
Ðiều 71:
1. Một bên có thể ngừng việc thực hiện nghĩa vụ
của mình nếu có dấu hiệu cho thấy rằng sau khi
hợp đồng được ký kết, bên kia sẽ không thực hiện
một phần chủ yếu những nghĩa vụ của họ bởi lẽ:
a. Một sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả
năng thực hiện hay trong khi thực hiện hợp đồng.
b. Cung cách sử dụng của bên kia trong việc
chuẩn bị thực hiện hay trong khi thực hiện hợp
đồng.
2. Nếu người bán đã gửi hàng đi khi phát hiện
những lý do nêu trong khoản trên, họ có thể ngăn
cản không để hàng hóa được giao cho người mua
ngay cả nếu người này giữ trong tay chứng từ cho
phép họ nhận hàng. Mục này chỉ liên quan đến
các quyền của người mua và người bán đối với
hàng hóa.
3. Một bên nào ngừng việc thực hiện hợp đồng,
không phụ thuộc vào việc đó xảy ra trước hay sau
khi hàng gửi đi, thì phải gửi ngay một thông báo
về việc đó cho bên kia và phải tiếp tục thực hiện
hợp đồng nếu bên kia cung cấp những bảo đảm
đầy đủ cho việc thực hiện nghĩa vụ của họ.
Ðiều 72:
1. Nếu trước ngày quy định cho việc thi hành
hợp đồng, mà thấy hiển nhiên rằng một bên sẽ gây
ra một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng, bên kia có
thể tuyên bố hợp đồng bị hủy.
2. Nếu có đủ thời giờ, bên nào có ý định tuyên bố
hợp đồng bị hủy thì phải gửi một thông báo hợp lý
cho bên kia để cho phép họ cung cấp những bảo đảm
đầy đủ rằng họ sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình.
3. Các quy định của khoản trên không áp dụng nếu
bên kia đã tuyên bố rằng họ sẽ không thực hiện nghĩa
vụ của mình.
Ðiều 73:
1. Nếu hợp đồng quy định giao hàng từng phần và
nếu sự kiện một bên không thực hiện một nghĩa vụ có
liên quan đến một lô hàng cấu thành một sự vi phạm
chủ yếu đến hợp đồng về lô hàng đó thì bên kia có
thể tuyên bố hủy hợp đồng về phần lô hàng đó.
2. Nếu sự kiện một bên không thực hiện một nghĩa
vụ có liên quan đến bất cứ lô hàng nào cho phép bên
kia có lý do xác đáng để cho rằng sẽ có một sự vi
phạm chủ yếu đến hợp đồng với các lô hàng sẽ được
giao trong tương lai thì họ có thể tuyên bố hủy hợp
đồng đối với các lô hàng tương lai đó với điều kiện
phải làm việc đó trong một thời hạn hợp lý.
3. Người mua tuyên bố hủy hợp đồng đối với bất kỳ
lô hàng nào có thể cùng một lúc, tuyên bố hợp đồng
bị hủy đối với các lô hàng đã giao hoặc đối với các lô
hàng sẽ được giao trong tương lai nếu, do tính liên
kết, các lô hàng này không thể sử dụng được cho
những mục đích do hai bên đã dự tính vào lúc ký kết
hợp đồng.
MỤC II:
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
Ðiều 74:
Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi
phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn
thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu
do hậu qủa của sự vi phạm hợp đồng. Tiền bồi
thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và
số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc
đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng
như một hậu qủa có thể xảy ra do vi phạm hợp
đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc
đáng lẽ phải biết.
Ðiều 75:
Khi hợp đồng bị hủy và nếu bằng một cách hợp lý và
trong một thời hạn hợp lý sau khi hủy hợp đồng,
người mua đã mua hàng thay thế hay người bán đã
bán hàng lại hàng thì bên đòi bồi thường thiệt hại có
thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và
giá mua thế hay bán lại hàng cũng như mọi khoản
tiền bồi thường thiệt hại khác có thể đòi được chiếu
theo Điều 74.
CISG 1980
13
Ðiều 76:
1. Khi hợp đồng bị hủy và hàng có một giá hiện
hành, bên đòi bồi thường thiệt hại có thể, nếu họ
đã không mua hàng thay thế hay bán lại hàng
chiếu theo Điều 75, đòi nhận phần chênh lệch
giữa giá ấn định trong hợp đồng và giá hiện hành
lúc hủy hợp đồng, cùng mọi khoản tiền bồi
thường thiệt hại khác có thể đòi được chiếu theo
Điều 74. Mặc dầu vậy, nếu bên đòi bồi thường
thiệt hại đã tuyên bố hủy hợp đồng sau khi đã tiếp
nhận hủy hàng hóa, thì giá hiện hành vào lúc tiếp
nhận hàng hóa được áp dụng và không phải là giá
hiện hành vào lúc hủy hợp đồng.
2. Theo mục đích của điều khoản trên đây, giá
hiện hành là giá ở nơi mà việc giao hàng đáng lẽ
phải được thực hiện nếu không có giá hiện hành tại
nơi đó, là giá hiện hành tại một nơi nào mà người ta
có thể tham chiếu một cách hợp lý, có tính đến sự
chênh lệch trong chi phí chuyên chở hàng hóa.
Ðiều 77:
Bên nào viện dẫn sự vi phạm hợp đồng của bên kia
thì phải áp dụng những biện pháp hợp lý căn cứ vào
các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất kể cả khoản
lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp đồng gây ra. Nếu họ
không làm điều đó, bên vi phạm hợp đồng có thể yêu
cầu giảm bớt một khoản tiền bồi thường thiệt hại
bằng với mức tổn thất đáng lẽ đã có thể hạn chế
được.
MỤC III:
TIỀN LÃI
Ðiều 78:
Nếu một bên chậm thanh toán tiền hàng hay mọi khoản tiền thiếu khác, bên kia có quyền đòi tiền lãi trên số tiền
chậm trả đó mà không ảnh hưởng đến quyền đòi bồi thường thiệt hại mà họ có quyền đòi hỏi chiếu theo Điều
74.
MỤC IV:
MIỄN TRÁCH
Ðiều 79:
1. Một bên không chịu trách nhiệm về việc không
thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu
chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là
do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và
người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng
họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp
đồng hoặc là tránh được hay khắc phục các hậu
qủa của nó.
2. Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của
mình do người thứ ba mà họ nhờ thực hiện toàn
phần hay một phần hợp đồng cũng không thực
hiện điều đó thì bên ấy chỉ được miễn trách nhiệm
trong trường hợp:
a. Ðược miễn trách nhiệm chiếu theo quy định
của khoản trên, và.
b. Nếu người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu
các quy định của khoản trên được áp dụng cho họ.
3. Sự miễn trách được quy định tại điều này chỉ có
hiệu lực trong thời kỳ tồn tại trở ngại đó.
4. Bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình thì
phải báo cáo cho bên kia biết về trở ngại và ảnh
hưởng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ.
Nếu thông báo không tới tay bên kia trong một thời
hạn hợp lý từ khi bên không thực hiện nghĩa vụ đã
biết hay đáng lẽ phải biết về trở ngại đó thì họ sẽ phải
chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc bên kia
không nhận được thông báo.
5. Các sự quy định của điều này không cản trở từng
bên được sử dụng mọi quyền khác ngoài quyền được
bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này.
Ðiều 80:
Một bên khôngđược viện dẫn một sự không thực hiện
nghĩa vụ của bên kia trong chừng mực mà sự không
thực hiện nghĩa vụ đó là do những hành vi hay sơ
suất của chính họ.
CISG 1980
14
MỤC V:
HẬU QUẢ CỦA VIỆC HUỶ HỢP ĐỒNG
Ðiều 81:
1. Việc hủy hợp đồng giải phóng hai bên khỏi
những nghĩa vụ của họ, trừ những khoản bồi
thường thiệt hại có thể có. Việc hủy hợp đồng
không có hiệu lực đối với quy định của hợp đồng
liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp hay
đến các quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong
trường hợp hợp đồng bị hủy.
2. Bên nào đã thực hiện toàn phần hay một phần
hợp đồng có thể đòi bên kia hoàn lại những gì họ
đã cung cấp hay đã thanh toán khi thực hiện hợp
đồng. Nếu cả hai bên đều bị buộc phải thực hiện
việc hoàn lại, thì họ phải làm việc này cùng một
lúc.
Ðiều 82:
1. Người mua mất quyền tuyên bố huỷ hợp đồng
hay đòi người bán phải giao hàng thay thế nếu họ
không thể hoàn lại hàng hóa trong tình trạng về
thực chất giống như tình trạng khi họ nhận hàng
đó.
2. Ðiều khoản trên không áp dụng:
a. Nếu sự kiện không thể hoàn lại hàng hóa hoặc
không thể hoàn lại hàng hóa trong tình trạng về
thực chất giống như tình trạng khi người mua
nhận không phải do một hành động hay một sơ
suất của họ.
b. Nếu hàng hóa hay một phần hàng hóa không
thể sử dụng được hoặc bị hư hỏng theo kết qủa
của việc kiểm tra quy định tại điều 38, hoặc.
c. Nếu trước khi nhận thấy hay đáng lẽ phải nhận
thấy rằng hàng hóa không phù hợp hợp đồng, người
mua đã bán toàn phần hay một phần hàng hóa trong
khuôn khổ một nghiệp vụ kinh doanh thông thường
hay đã tiêu dùng hoặc biến đổi toàn thể hay một phần
hàng hóa đúng theo thể thức sử dụng bình thường.
Ðiều 83:
Người mua đã mất quyền tuyên bố hủy hợp đồng hay
đòi người bán phải giao hàng thay thế chiếu theo điều
82, vẫn duy trì quyền sử dụng biện pháp bảo hộ pháp
lý khác mà họ có theo hợp đồng và Công ước này.
Ðiều 84:
1. Nếu người bán bị buộc phải hoàn lại giá tiền, họ
cũng phải trả tiền lãi trên tổng số của giá tiền đó kể từ
ngày người mua thanh toán.
2. Người mua phải trả cho người bán số tiền tương
đương với mọi lợi nhuận mà họ đã được hưởng từ
hàng hóa hay một phần hàng hóa:
a. Khi họ phải hoàn lại toàn thể hay một phần hàng
hóa, hoặc.
b. Khi họ không thể hoàn lại toàn thể hay một phần
hàng hóa không thể hoàn lại hàng trong tình trạng về
thực chất giống như tình trạng họ đã nhận và mặc dầu
vậy họ đã tuyên bố hợp đồng bị hủy hay đã đòi người
bán phải giao hàng thay thế.
MỤC VI:
BẢO QUẢN HÀNG HOÁ
Ðiều 85:
Khi người mua chậm trễ nhận hàng hay không trả
tiền, hoặc trong những trường hợp khi việc trả tiền
và việc giao hàng phải được tiến hành cùng một
lúc, nếu hàng hóa còn ở dưới quyền định đoạt hay
kiểm soát của người bán thì người bán phải thực
hiện những biện pháp hợp lý trong những tình
huống như vậy để bảo quản hàng hóa. Người bán
có quyền giữ lại hàng hóa cho tới khi nào người
mua hoàn trả cho họ các chi phí hợp lý.
Ðiều 86:
1. Nếu người mua đã nhận hàng và có ý định sử
dụng quyền từ chối không nhận hàng chiếu theo
hợp đồng hay Công ước này, thì họ phải thi hành các
biện pháp hợp lý trong những tình huống như vậy, để
bảo quản hàng hóa. Người mua có quyền giữ lại hàng
hóa cho tới khi nào người bán hoàn trả cho họ các chi
phí hợp lý.
2. Nếu hàng hóa gửi đi cho người mua đã được đặt
dưới quyền định đoạt của người này tại nơi đến và
nếu người mua sử dụng quyền từ chối hàng thì họ
phải tiếp nhận hàng hóa, chi phí do người bán chịu
với điều kiện là người mua có thể làm việc này mà
không phải trả tiền hàng và không gặp trở ngại hay
các chi phí không hợp lý. Quy định này không áp
dụng nếu người bán hiện diện tại nơi đến hay tại nơi
CISG 1980
15
đó có người có thẩm quyền để nhận hàng hóa cho
người bán và chi phí do người bán chịu. Những
quyền lợi và nghĩa vụ của người mua khi người
này tiếp nhận hàng hóa chiếu theo khoản này
được điều chỉnh bằng quy định tại khoản trên.
Ðiều 87:
Bên nào bị buộc phải có những biện pháp để bảo
quản hàng hóa có thể giao hàng vào kho của
người thứ ba, chi phí bên kia phải chịu, với điều
kiện là các chi phí này phải hợp lý.
Ðiều 88:
1. Bên nào phải bảo quản hàng hóa chiếu theo các
điều 85 hay 86 có thể bán hàng đi bằng cách thích
hợp nếu bên kia chậm trễ một cách phi lý trong
việc tiếp nhận hàng hóa hay lấy lại hàng hoặc trong
việc trả tiền hàng hay các chi phí bảo quản, nhưng
phải thông báo cho bên kia trong những điều kiện
hợp lý, ý định phát mãi hàng.
2. Nếu hàng hóa thuộc loại hàng mau hỏng hay khi
việc bảo quản nó sẽ gây ra các chi phí phi lý thì bên
nào có nghĩa vụ bảo quản hàng hóa chiếu theo các
điều 85 hay 86 phải tiến hành các biện pháp hợp lý để
bán hàng đi. Theo khả năng của mình họ phải thông
báo cho bên kia biết ý định phát mại.
3. Bên bán hàng có quyền giữ trong khoản thu do
việc bán hàng đem lại một số tiền ngang với các chi
phí hợp lý trong việc bảo quản và phát mại hàng hóa.
Họ phải trả phần còn lại cho bên kia.
PHẦN THỨ TƯ
NHỮNG QUY ĐỊNH CUỐI CÙNG
Ðiều 89:
Tổng thư ký Liên hiệp quốc được chỉ định là
người giữ lưu chiểu bản Công ước này.
Ðiều 90:
Công ước này không ảnh hưởng đến hiệu lực của
bất kỳ một điều ước quốc tế nào đã được hay sẽ
được ký kết mà bao gồm những quy định liên
quan đến các vấn đề là đối tượng điều chỉnh của
Công ước này, với điều kiện là các bên của hợp
đồng phải có trụ sở thương mại tại các quốc gia
thành viên của điều ước quốc tế đó.
Ðiều 91:
1. Công ước này sẽ để ngỏ cho các bên ký kết tại
các phiên họp bế mạc của hội nghị Liên hợp quốc
về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, và sẽ để
ngỏ cho các quốc gia ký kết tại trụ sở Liên hợp
quốc ở New York, cho tới ngày 30-11-1984.
2. Công ước này phải được sự phê chuẩn, chấp
nhận hay chuẩn y các quốc gia ký tên.
3. Công ước này sẽ nhận sự gia nhập tất cả các
quốc gia không ký tên, kể từ ngày Công ước để
ngỏ cho các bên ký kết.
4. Các văn bản phê chuẩn, chấp nhận, chuẩn y
hay gia nhập sẽ được giao cho Tổng thư ký Liên
hợp quốc lưu giữ.
Ðiều 92:
1. Mọi quốc gia thành viên có thể, vào lúc ký
kết, phê chuẩn, chấp nhận, chuẩn y hay gia nhập,
tuyên bố sẽ không ràng buộc phần thứ hai, hay phần
thứ ba của Công ước này.
2. Một quốc gia thành viên, chiếu theo điều khoản
trên, đưa ra một tuyên bố về phần thứ hai hay phần
thứ ba của Công ước này, sẽ không được coi là một
quốc gia thành viên theo nghĩa của khoản 1 điều 1
của Công ước này về các vấn đề quy định trong phần
của bản Công ước có liên quan đến tuyên bố đó.
Ðiều 93:
1. Nếu một quốc gia thành viên mà bao gồm hai hay
nhiều đơn vị lãnh thổ, trong đó theo hiến pháp của
quốc gia các hệ thống pháp luật khác nhau được áp
dụng cho các vấn đề là đối tượng điều chỉnh của
Công ước này thì quốc gia đó có thể, vào lúc ký kết,
phê chuẩn, chấp nhận, chuẩn y hay gia nhập, tuyên
bố rằng Công ước này sẽ áp dụng cho tất cả các đơn
vị lãnh thổ hay chỉ cho một hay nhiều đơn vị và có
thể bất cứ lúc nào sửa đổi tuyên bố đó bằng một
tuyên bố khác.
2. Các tuyên bố này sẽ được thông báo cho người
giữ lưu chiểu và trong các tuyên bố này phải nêu rõ
Công ước được áp dụng tại những đơn vị lãnh thổ
nào.
3. Nếu chiếu theo một tuyên bố được làm đúng theo
điều này thì Công ước này được áp dụng cho một hay
nhiều đơn vị lãnh thổ của một quốc gia thành viên,
nhưng không phải cho tất cả, và nếu trụ sở thương
mại của một bên hợp đồng đóng tại quốc gia đó, thì
theo mục đích của Công ước này, trụ sở thương mại
đó sẽ được coi là không đóng một quốc gia thành
CISG 1980
16
viên, trừ phi trụ sở thương mại đó đóng tại một
đơn vị lãnh thổ nơi Công ước được áp dụng.
4. Nếu một quốc gia thành viên không ra tuyên
bố chiếu theo khoản 1 Điều này thì Công ước đó
sẽ áp dụng cho tất cả các đơn vị lãnh thổ của quốc
gia đó.
Ðiều 94:
1. Hai hay nhiều quốc gia thành viên, khi áp
dụng các quy tắc pháp lý tương tự hay giống nhau
về những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của
Công ước này, bất cứ lúc nào cũng có thể tuyên
bố không áp dụng Công ước cho các hợp đồng
mua bán hoặc cho việc ký kết các hợp đồng này
trong những trường hợp khi các bên có trụ sở
thương mại tại các quốc gia này. Các quốc gia có
thể cùng nhau ra tuyên bố nói trên hoặc trao cho
nhau những tuyên bố đơn phương về vấn đề này.
2. Nếu một quốc gia thành viên đối với các vấn
đề được điều chỉnh bởi Công ước này, áp dụng
các quy tắc pháp lý tương tự hoặc giống với quy
tắc pháp lý của một hay nhiều quốc gia không
phải là thành viên thì quốc gia đó có thể, bất cứ
lúc nào, tuyên bố rằng bản Công ước sẽ không áp
dụng cho các hợp đồng mua bán hay cho việc ký
kết các hợp đồng mua bán hay cho việc ký kết các
hợp đồng này nếu các bên có trụ sở thương mại tại
các quốc gia không phải là thành viên Công ước.
3. Khi một quốc gia liên quan đến một tuyên bố
được làm chiếu theo khoản trên sau đó trở thành
một quốc gia thành viên, thì tuyên bố này, kể từ
ngày bản Công ước này có hiệu lực đối với quốc
gia thành viên mới đó, sẽ có hiệu lực như một
tuyên bố được làm chiếu theo khoản 1, với điều
kiện là quốc gia thành viên mới đó, chấp nhận
tuyên bố này hay ra một tuyên bố đơn phương có
tính chất tương hỗ.
Ðiều 95:
Mọi quốc gia có thể tuyên bố, kho nộp văn bản
phê chuẩn, chấp nhận, chuẩn y hay gia nhập, rằng
quốc gia đó sẽ không bị ràng buộc bởi các quy
định tại đoạn b khoản 1 Điều thứ nhất của Công
ước này.
Ðiều 96:
Nếu luật của một quốc gia thành viên quy định
hợp đồng mua bán phải được ký kết hay xác nhận
bằng văn bản thì quốc gia đó có thể bất cứ lúc nào
tuyên bố chiếu theo Điều 12, rằng mọi quy định
của các Điều 11, 29 hay của phần thứ hai Công
ước này cho phép một hình thức khác với hình thức
văn bản cho việc ký kết, sửa đổi hay chấm dứt hợp
đồng mua bán, hay cho mọi chào hàng, chấp nhận
chào hàng hay sự thể hiện ý định nào khác sẽ không
áp dụng nếu như chỉ cần một trong các bên có trụ sở
thương mại tại quốc gia.
Ðiều 97:
1. Các tuyên bố được làm chiếu theo bản Công ước
này vào lúc ký kết phải được xác nhận khi phê chuẩn,
chấp nhận hay chuẩn y.
2. Các tuyên bố và sự xác nhận các tuyên bố phải
được bằng văn bản và chính thức thông báo cho
người giữ lưu chiểu.
3. Các tuyên bố sẽ có hiệu lực vào ngày Công ước
này bắt đầu có hiệu lực đối với quốc gia ra tuyên bố.
Tuy nhiên các tuyên bố mà người giữ lưu chiểu chính
thức nhận được sau ngày Công ước có hiệu lực vào
ngày đầu tháng tiếp theo sau khi hết một thời hạn 6
tháng kể từ ngày người giữ lưu chiểu nhận làm tuyên
bố. Các tuyên bố đơn phương và tương hỗ được làm
chiếu theo Điều 94 sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tháng
tiếp theo sau khi hết một thời hạn 6 tháng kể từ ngày
người giữ lưu chiểu nhận được tuyên bố cuối cùng.
4. Bất cứ quốc gia nào ra một tuyên bố chiếu theo
Công ước này đều có thể bất kỳ lúc nào rút lui tuyên
bố đó bằng một thông báo chính thức bằng văn bản
cho người giữ lưu chiểu. Sự thu hồi này sẽ có hiệu
lực vào ngày đầu tháng tiếp theo sau khi hết thời hạn
6 tháng kể từ ngày người giữ lưu chiểu nhận được
thông cáo.
5. Sự thu hồi một tuyên bố được chiếu theo Điều 94
kể từ ngày có hiệu lực cũng sẽ chấm dứt hiệu lực của
mọi tuyên bố tương hỗ của một quốc gia khác chiếu
theo Điều này.
Ðiều 98:
Không một bảo lưu nào được cho phép ngoài các bảo
lưu được cho phép bởi Công ước này.
Ðiều 99:
1. Công ước này sẽ bắt đầu có hiệu lực với điều kiện
tuân thủ các quy định của khoản 6 Điều này, vào
ngày đầu tháng tiếp theo sau khi hết một hạn kỳ 12
tháng kể từ ngày văn bản phê chuẩn, chấp nhận,
chuẩn y hay gia nhập thứ mười được đệ trình kể cả
những văn bản chứa đựng một tuyên bố được làm
chiếu theo Điều 92.
CISG 1980
17
2. Khi một quốc gia phê chuẩn, chấp nhận hay
chuẩn y Công ước này hoặc gia nhập Công ước
sau ngày văn bản phê chuẩn, chấp nhận hay chuẩn
y, gia nhập thứ mười được đệ trình, Công ước
ngoại trừ phần không chấp nhận sẽ bắt đầu có
hiệu lực đối với quốc gia đó với điều kiện tuân thủ
các quy định của khoản 6 Điều này vào ngày đầu
tháng tiếp theo sau khi hết một thời hạn 12 tháng
kể từ ngày văn bản phê chuẩn, chấp nhận, chuẩn y
hay gia nhập được đệ trình.
3. Mọi quốc gia phê chuẩn, chấp nhận hay chuẩn
y Công ước này hay gia nhập Công ước và là
thành viên của Công ước Luật thống nhất về ký
kết các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế làm
tại La-Haye ngày 1-7-1964 (Công ước La-Haye
1964 về ký kết hợp đồng) hoặc của Công ước
Luật thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế làm
tại La-Haye ngày 1-7-1964 (Công ước La-Haye
1964 về mua bán) hoặc là thành viên của cả hai
Công ước La-Haye, sẽ phải đồng thời hủy bỏ, tuỳ
trường hợp, Công ước La-Haye1964 về mua bán
hay Công ước La-Haye1964 về ký kết hợp đồng
hoặc cả hai Công ước, bằng cách gửi một thông
cáo với mục đích này cho Chính phủ Hà Lan.
4. Một quốc gia thành viên của Công ước LaHaye 1964 về mua bán hàng hóa mà phê chuẩn,
chấp nhận, hay chuẩn y Công ước này (tức là
Công ước viên 1980) hoặc gia nhập Công ước này
và tuyên bố đã tuyên bố chiếu theo điều 92 rằng
họ không bị ràng buộc bởi phần thứ hai của Công
ước, sẽ hủy bỏ vào lúc phê chuẩn, chấp nhận hay
chuẩn y gia nhập, bản Công ước La-Haye 1964 về
mua bán hàng hóa bằng cách gửi một thông cáo
với mục đích đó cho Chính phủ Hà Lan.
5. Mọi quốc gia thành viên của Công ước LaHaye 1964 về ký kết hợp đồng mà phê chuẩn,
chấp nhận hay chuẩn y Công ước này, hoặc gia
nhập Công ước này và tuyên bố hay đã tuyên bố
chiếu theo điều 92 rằng họ không bị ràng buộc bởi
phần thứ ba của Công ước sẽ hủy bỏ vào lúc phê
chuẩn, chấp nhận, chuẩn y hay gia nhập, bản
Công ước La-Haye 1964 về ký kết hợp đồng bằng
cách gửi một thông cáo với mục đích đó cho Chính
phủ Hà Lan.
6. Vì mục đích của điều này, các sự phê chuẩn, chấp
nhận, chuẩn y và gia nhập Công ước này của các
quốc gia thành viên của Công ước La-Haye 1964 về
ký kết hợp đồng hay Công ước La-Haye 1964 về mua
bán hàng hóa chỉ bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày các
thông báo hủy bỏ của các quốc gia đó đối với hai
Công ước nói trên cũng sẽ có hiệu lực. Người giữ lưu
chiểu bản Công ước này sẽ thỏa thuận với Chính phủ
Hà Lan, vốn là người giữ lưu chiểu các Công ước
1964, để đảm bảo sự phối hợp cần thiết về vấn đề
này.
Ðiều 100:
1. Công ước này áp dụng cho việc ký kết các hợp
đồng trong những trường hợp khi một đề nghị ký kết
hợp đồng được làm vào ngày Công ước bắt đầu có
hiệu lực hoặc sau ngày đó đối với các quốc gia thành
viên nói tại đoạn a khoản 1 Điều thứ nhất hoặc đối
với quốc gia thành viên nói ở đoạn b khoản 1 Điều
thứ nhất.
2. Công ước này chỉ áp dụng cho các hợp đồng được
ký kết vào đúng ngày hoặc sau ngày Công ước bắt
đầu có hiệu lực đối với các quốc gia thành viên nói
tại khoản a đoạn 1 Điều thứ nhất hoặc đối với quốc
gia thành viên nói ở đoạn b khoản 1 Điều thứ nhất.
Ðiều 101:
1. Mọi quốc gia thành viên có thể hủy bỏ Công ước
này, hoặc Phần thứ hai hay thứ ba của Công ước,
bằng một thông cáo chính thức bằng văn thư gửi cho
người giữ lưu chiểu.
2. Sự hủy bỏ sẽ bắt đầu có hiệu lực vào ngày đầu
tháng tiếp theo sau khi hết một thời hạn 12 tháng kể
từ ngày người giữ lưu chiểu nhận được thông cáo.
Nếu không ấn định một thời hạn dài hơn cho sự bắt
đầu có hiệu lực của việc hủy bỏ Công ước thì sự hủy
bỏ sẽ bắt đầu có hiệu lực kể từ khi kết thúc thời hạn
này sau ngày người giữ lưu chiểu nhận được thông
báo.
Làm tại Viên, ngày mười một tháng tư năm một ngàn chín trăm tám mươi, thành một bản chính mà các bản
tiếng Anh, Ả Rập, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Nga, Pháp đều là bản chính thức.
Ðể trung thực các vị đặc mệnh toàn quyền ký tên dưới đây được các Chính phủ của mình ủy quyền, đã ký vào
bản Công ước này.

Leave a Comment

gianhadat bảng giá nhà đất ubnd thành phố giá đất nhất tháng 10/2021 giá đất tphcm 2019 giá đất tphcm 2018 giá đất tphcm giá nhà đất tphcm giá đất tphcm 2021 giá đất tphcm 2020 Giá đất hiện nay giá đất uỷ ban nhân dân tỉnh giá đất vùng ngoại ô Mua ly giấy tphcm Giá đất thành phố thủ đức bảng giá đất tphcm 2020 excel bảng giá đất tphcm 2019 giá nhà đất tphcm hiện nay giá đất tphcm năm 2020 giá đất 2024 giá đất nền thổ cư giá đất sổ sẳn giá đất mua bán thực tế gia dat ubnd tinh thudaumot binh duong gia dat Giá đất longan bảng giá đất huyện đức hòa 2021 đất phức hợp là gì bảng giá đất quận hoàng mai 2021 Mua đất ở đâu hcm giá rẻ giá đất quận 9 năm 2021 giá đất để bán cà phê gia nha dat tphcm mua đất đầu tư giá tốt ở đâu tại tphcm gianhadat giá đất quận bình thạnh giá đất ở đâu rẻ nhất tphcm giá đất quận tân phú tphcm giá đất thủ đức giá đất thành phố thủ đức bảng giá nhà đất tphcm 2021 giá nhà trọ quận 7 giá nhà đất ph1u mỹ hưng giá đất quận 9 sốt giá đất giá đất giảm giá đất có tăng nữa không? giá đất gò vấp giá đất quận 12 gia dat và moi gioi giá nhà đất tphcm hiện nay baomuabannhadat.net/kinh-nghiem/gia-nha-dat/ baomuabannhadat.net/kinh-nghiem/gia-nha-dat/gia-ban-dat-tai-tphcm/ gia-ban-dat-tai-tphcm nha dat va gia giá lên đất thổ cư giá đất do uỷ ban nhân dân tình tp giá đất tphcm 2021 định giá nhà đất giá môi giới 1 căn nhà giá phí môi giới cho thuê chung cư giá đất tphcm mo gioi giá đất trang giá nhà đất dành vho moi goi vn giá môi giới nhà đất tiền đóng thuế nah2 đất giá nhà đất tối thiểu mo gi oi giá nhà đất tính giá nhà đất giá đất quận 1 moi gioi dinh gia nha dat bảng giá đất tphcm 2021 gianhadat giá thuế nhà đất văn bản số 38/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu văn bản số 19/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND Thành phố Cần Thơ Ban hành kèm theo văn bản số 54/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND Thành phố Hải Phòng Bảng giá đất văn bản số 09/2020/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND Thành phố Đà Nẵng giá đất văn bản số 30/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND TP. Hà Nội giá đất ở văn bản số 02/2020/QĐ-UBND ngày 16/01/2020 của UBND TP.Hồ Chí Minh Giá đất 2020-2025 Giá đất 2019-2024